Trong số các bên liên quan chịu trách nhiệm xây dựng và thực hiện chiến lược quốc gia về xét nghiệm COVID-19, các nhà hoạch định chính sách của chính phủ đóng một vai trò độc đáo và quan trọng. Ngoài việc quản lý các quy trình quản lý, họ cũng có ảnh hưởng mạnh tới việc đặt ra các tiêu chuẩn xét nghiệm và thiết lập cơ sở hạ tầng cần thiết để xử lý việc tăng nhu cầu đột biến.
Trong khi các phương thức xét nghiệm mới đang ngày càng được triển khai trong cuộc chiến chống lại COVID-19, xét nghiệm PCR vẫn là tiêu chuẩn vàng để xác định các ca bệnh chủ động. Trong bài viết này, chúng tôi xem xét một số biện pháp mà các nhà hoạch định chính sách ở khu vực Châu Á-Thái Bình Dương đã thực hiện để đảm bảo có sẵn các xét nghiệm PCR chất lượng cao cũng như những thách thức mà chính phủ có thể phải đối mặt trong quá trình tạo lập chính sách chẩn đoán.
Hợp lý hóa các quy trình quản lý
Trước khi có thể thực hiện bất kỳ xét nghiệm chẩn đoán nào trên bệnh nhân, các nhà quản lý phải đánh giá và phê duyệt chúng về tính an toàn và tính hiệu quả. Mặc dù các quy trình quản lý thường thận trọng và được cân nhắc kỹ lưỡng, nhưng đại dịch COVID-19 đã buộc các nhà hoạch định chính sách ở khu vực Châu Á-Thái Bình Dương phải nhanh chóng hành động và xác lập quy định về xét nghiệm PCR (xem cuộc phỏng vấn Dia:gram gần đây với Harjit Gill, Giám đốc Điều hành của Asia Pacific Medical Technology Association, để biết thêm thông tin về cách COVID-19 đang định hình lại các quy trình quản lý ở Châu Á).
Một số nhà quản lý đã làm việc với tốc độ chớp nhoáng. Bằng cách kích hoạt hệ thống giấy phép sử dụng khẩn cấp (EUA), Center for Disease Control and Prevention của Hàn Quốc đã đẩy nhanh quá trình phê duyệt bộ kit PCR [1] chỉ trong ba tuần sau khi nhận được trình tự bộ gen của vi-rút. Tương tự như vậy, Trung Quốc đã sắp xếp hợp lý các quy trình quản lý [2] bằng cách đồng thời tiến hành kiểm tra sản phẩm, quản lý chất lượng và đánh giá ứng dụng của các thiết bị y tế, cho phép phê duyệt bảy sản phẩm xét nghiệm axit nucleic đầu tiên trong 11 ngày.
Khi đẩy nhanh quá trình phê duyệt, các cơ quan quản lý thận trọng cân bằng các ưu tiên để đảm bảo tiếp cận xét nghiệm nhanh vào những thời điểm cần thiết, đồng thời tiếp tục bảo vệ bệnh nhân. Ở một số quốc gia, sự giám sát lỏng lẻo dẫn đến việc triển khai rộng rãi các xét nghiệm thiếu độ đặc hiệu và độ nhạy, dẫn đến việc thu hồi một số xét nghiệm ra khỏi thị trường, cũng như tình trạng dương tính giả và âm tính giả gây cản trở nỗ lực ngăn chặn bệnh dịch. Trong tương lai, các nhà hoạch định chính sách cần phải hết sức thận trọng và ưu ái những nhà cung cấp thiết bị có uy tín với thành tích vững chắc về chất lượng.
Đặt ra các tiêu chuẩn xét nghiệm
Ngoài việc đánh giá và phê duyệt các xét nghiệm PCR mới, các nhà hoạch định chính sách ở khu vực Châu Á-Thái Bình Dương đang nỗ lực thiết lập các tiêu chí xét nghiệm phù hợp với nhu cầu tại địa phương. Khi dịch tễ học và hiểu biết khoa học về vi-rút tiến triển, những tiêu chí này liên tục thay đổi.
Ví dụ như khi các ca bệnh COVID-19 đầu tiên xuất hiện ở Singapore vào cuối tháng 1, xét nghiệm chủ yếu chỉ giới hạn ở những bệnh nhân bị viêm phổi hoặc nhiễm trùng đường hô hấp nặng đã đi du lịch đến Trung Quốc gần đây. Tuy nhiên, theo thời gian, xét nghiệm đã được áp dụng cho các bộ phận dân cư rộng lớn hơn, chẳng hạn như lao động nước ngoài sống ở ký túc xá đã trở thành điểm nóng của bệnh (xem xét nghiệm COVID-19 tại Singapore: các cập nhật chính từ phòng thí nghiệm của bệnh viện công để biết mốc thời gian chi tiết về chính sách xét nghiệm của đất nước này).
Khi xây dựng các tiêu chuẩn xét nghiệm, các nhà hoạch định chính sách cần phải xem xét không chỉ các yếu tố dịch tễ học trong phạm vi trách nhiệm của họ, mà còn cần xem xét cả tình trạng của nguồn lực y tế ở địa phương. Các yếu tố hạn chế bao gồm tính sẵn sàng của xét nghiệm và năng lực của lực lượng lao động. Trong khi các quốc gia có nguồn lực tốt như Hàn Quốc đã có thể tiến hành xét nghiệm PCR trên diện rộng, bao gồm cả đối với bệnh nhân không biểu hiện triệu chứng có yếu tố nguy cơ tối thiểu, các quốc gia khác có thể cần phải có tiêu chí hẹp hơn để bảo toàn năng lực.
Việc thiết lập cơ sở hạ tầng và thông lệ xét nghiệm mới
Khi số ca bệnh COVID-19 tăng lên trong tháng 2 và tháng 3, nhiều hệ thống y tế ở khu vực Châu Á-Thái Bình Dương đã phải điều chỉnh nhanh chóng với sự gia tăng đột biến nhu cầu về cơ sở xét nghiệm và cách ly. Một số buộc phải ứng biến. Ví dụ, vào cuối tháng 3, Bệnh viện Đa khoa Singapore (Singapore General Hospital, SGH) đã biến bãi đỗ xe của bệnh viện thành khu vực lấy mẫu (xem Hành trình của bệnh nhân COVID-19: câu chuyện tại Singapore để biết chi tiết về trải nghiệm của Hugh Mason, một giáo sư đại học và cựu nhà làm phim khoa học đã được xét nghiệm, chẩn đoán và cách ly tại SGH).
Do cần thực hiện số lượng lớn các xét nghiệm ở Vũ Hán, thành phố đã trải qua đợt bùng phát dịch quy mô lớn đầu tiên, các nhà hoạch định chính sách Trung Quốc đã tạo ra cơ sở hạ tầng đặc biệt để quản lý quy trình chẩn đoán. Bằng cách nhanh chóng huy động các công ty thiết kế kiến trúc, kỹ thuật và xây dựng, thành phố đã xây dựng hai bệnh viện tạm thời (Huoshenshan và Leishenshan) chỉ trong 12 ngày. Được trang bị đầy đủ các phòng bệnh, phòng tư vấn và các đơn vị cách ly, các bệnh viện tạm thời cũng tăng năng lực xét nghiệm PCR của Vũ Hán [3].
Khi xác lập chiến lược quản lý cơ sở hạ tầng chẩn đoán, các nhà hoạch định chính sách cần phải thận trọng suy nghĩ xem họ có động cơ thúc đẩy và khả năng thống nhất các hoạt động xét nghiệm PCR của họ ở một số địa điểm quan trọng không hay họ nên theo đuổi một cách tiếp cận phân cấp hơn. Các nước nhỏ gọn hoặc có cơ sở hạ tầng kho vận mạnh có thể hưởng lợi từ việc thống nhất, nhưng cách tiếp cận như vậy có thể ít hiệu quả hơn ở các nước lớn kém phát triển.
Lập kế hoạch cho tương lai
Khi có các phương thức xét nghiệm mới trong những tháng tới, các nhà hoạch định chính sách cần giải quyết những thách thức mới, chẳng hạn như họ có nên quản lý dữ liệu mang tính nhạy cảm cao về các hoạt động và kết quả của phòng xét nghiệm và cách thức thực hiện điều đó. Ví dụ, mặc dù một số quốc gia cho phép các hệ thống PCR được kết nối, tạo điều kiện tổng hợp nhanh chóng dữ liệu và hỗ trợ từ xa, những nước khác đã thận trọng hơn do lo ngại về bảo mật dữ liệu.
Trước đại dịch COVID-19, nhiều chính phủ đã coi năng lực phòng xét nghiệm là sự lãng phí chứ không phải khoản đầu tư trong việc đảm bảo an toàn và an ninh cho người dân. Quan điểm đó đang thay đổi chóng mặt, và dù mỗi nước đều có những nhu cầu riêng và nên có cách tiếp cận riêng để đối phó với khủng hoảng, thì hầu hết các nhà hoạch định chính sách hiện nay đều nhận thức được giá trị của chẩn đoán.
[1] Ministry of Foreign Affairs, The Republic of Korea. Flattening the curve on COVID-19: How Korea responded to a pandemic using ICT.
[2] National Medical Products Administration, People’s Republic of China.
[3] ‘A closer look at nucleic acid testing at Huoshenshan Hospital‘, China Global Television Network


