Sự kiện Đối thoại chính sách APEC về quản lý ung thư cổ tử cung nhấn mạnh vai trò của các phòng xét nghiệm lâm sàng

April 22, 2022 Bullet Bài viết
Chia sẻ điều này:

Bài viết này là một phần của loạt bài về các chẩn đoán trong Sức khỏe phụ nữ. Chúng tôi sẽ thêm nhiều câu chuyện và nội dung liên quan hơn trong suốt năm. Xem câu chuyện đầu tiên trong loạt bài này về xét nghiệm phân loại ung thư cổ tử cung tại đây


Vào ngày 28 tháng 1, các chuyên gia về ung thư cổ tử cung từ khắp khu vực Châu Á – Thái Bình Dương và trên toàn thế giới đã cùng nhau tham gia sự kiện đối thoại chính sách về Đẩy nhanh và mở rộng sàng lọc và xét nghiệm HPV và ung thư cổ tử cung tại Khu vực APEC. Được tổ chức bởi Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương (APEC), sự kiện đối thoại này đã khám phá các chiến lược mới để giải quyết vấn đề ung thư cổ tử cung, một căn bệnh đã gây ra 351.720 ca bệnh được ghi nhận tại Châu Á – Thái Bình Dương vào năm 2020, khiến đây trở thành căn bệnh ung thư phổ biến thứ 3 ở phụ nữ trong khu vực.

Sự kiện đối thoại chính sách được xây dựng dựa trên nhiều năm làm việc trước đây của Diễn đàn Đổi mới Khoa học Đời sống (LSIF), một nhóm công tác của APEC, bao gồm Lộ trình năm 2021 nhằm thúc đẩy sự tiến bộ kinh tế bền vững cho phụ nữ thông qua phòng ngừa và kiểm soát ung thư cổ tử cung giai đoạn 2021-2025 (xem bài viết gần đây này trên Diễn đàn Kinh tế Thế giới để có cái nhìn tổng quan tuyệt vời về những nỗ lực này). Như cuộc đối thoại đã chỉ ra, một sáng kiến quản lý ung thư cổ tử cung toàn diện nên bao gồm các biện pháp tăng cường năng lực phòng ngừa, sàng lọc và điều trị, cũng như các chiến dịch phổ biến kiến thức cho cộng đồng để nâng cao nhận thức về tiêm chủng HPV, bộ dụng cụ tự lấy mẫu và các công cụ khác có thể giúp chống lại căn bệnh này một cách hiệu quả.

Đối với các phòng xét nghiệm lâm sàng, các chính sách nhằm xây dựng công suất làm việc của phòng xét nghiệm, tiếp cận các phương pháp chẩn đoán mới và duy trì lực lượng lao động cần thiết để tiến hành sàng lọc ung thư cổ tử cung sẽ đặc biệt quan trọng. Dưới đây là một số điểm nổi bật chính từ phiên đối thoại có thể liên quan đến các chuyên gia phòng xét nghiệm.

Khuyến khích sử dụng xét nghiệm DNA HPV nhiều hơn

Hướng dẫn sàng lọc có thể khác nhau tùy theo từng quốc gia, nhưng yêu cầu cơ bản là phụ nữ phải được sàng lọc từ giữa độ tuổi 20 cứ mỗi 3 đến 5 năm bằng xét nghiệm Pap là tối thiểu và/hoặc xét nghiệm DNA HPV nếu có thể, đồng thời phân loại ngay lập tức các kết quả bất thường và điều trị các tổn thương tiền ung thư.

Các quốc gia được khuyến khích thay đổi các chương trình dựa trên tế bào học sang phương pháp khác, nhưng điều này không phải lúc nào cũng khả thi trong mọi trường hợp,  theo lời Bs. Nathalie Broutet, quyền trưởng đơn vị tại Khoa Sức khỏe Tình dục và Ung thư Sinh sản của WHO.

Tại Malaysia, Bs. Zakiah Said thuộc Bộ Y tế Malaysia cho biết đất nước của bà đã chấp thuận việc sử dụng xét nghiệm HPV như một công cụ sàng lọc chính. Tuy nhiên, không phải tất cả các quốc gia châu Á đều thực hiện các biện pháp tương tự, đôi khi là do thiếu nguồn lực hoặc thiếu sự phối hợp trong chính nước mình.

Tái sử dụng cơ sở hạ tầng PCR để phục vụ ung thư cổ tử cung

Một thách thức khác là tỷ lệ sàng lọc ung thư cổ tử cung giảm gần đây do sự gián đoạn trong các dịch vụ chăm sóc sức khỏe thường quy gây ra bởi đại dịch COVID-19. Bs. Cheng Wen-Fang, Trưởng khoa kiêm Bác sĩ điều trị của Khoa phụ sản tại National Taiwan University Hospital, chia sẻ rằng tỷ lệ tham gia 3 năm của Đài Loan đã giảm khoảng 2% và phụ nữ có kết quả xét nghiệm Pap bất thường bị mất dấu theo dõi ở mức 3-4%.

Sự sụt giảm này thậm chí còn rõ rệt hơn ở nhiều quốc gia khác. Ví dụ: tại Hoa Kỳ, hệ thống chăm sóc sức khỏe đã chứng kiến sự sụt giảm ban đầu là 80% trong việc sàng lọc ung thư cổ tử cung thường quy do COVID-19. Bs. Mona Sairaya của CDC nhận định rằng ngay cả sau 2 năm, hoạt động sàng lọc đã chậm lại 10% so với trước đại dịch.

Mặt tích cực là việc áp dụng nhanh chóng các công cụ PCR trong đại dịch COVID-19 mang lại cơ hội cải thiện việc sàng lọc ở nhiều quốc gia. Bs. Marion Saville, Giám đốc Điều hành của Australian Centre for the Prevention of Cervical Cancer, bày tỏ hy vọng rằng các quốc gia sẽ có thể tận dụng cơ sở hạ tầng PCR được xây dựng trong đại dịch để xét nghiệm COVID. Cơ sở hạ tầng này có thể được tái sử dụng để phục vụ sàng lọc ung thư cổ tử cung vì khối lượng xét nghiệm là rào cản đối với các dịch vụ sàng lọc mở rộng.

Khám phá các phương pháp tự lấy mẫu để cải thiện khả năng tiếp cận

Để mở rộng quy mô xét nghiệm ung thư cổ tử cung một cách hiệu quả, các chiến lược tự lấy mẫu hoặc tự thu thập đang mang lại lợi ích ở một số quốc gia. Ví dụ: tại Úc, Bs. Saville chia sẻ rằng phương pháp này đã được chứng minh là hiệu quả tương tự như các mẫu do bác sĩ lâm sàng thu thập [1]. Xét đến địa lý rộng lớn và điều kiện thời tiết khắc nghiệt của Úc, điều này cũng cho phép các hệ thống chăm sóc sức khỏe mở rộng khả năng tiếp cận sàng lọc ung thư cổ tử cung, bao gồm cả ở các cộng đồng nông thôn và dân tộc bản địa, nơi có tới 85% phụ nữ đã đưa lại mẫu để xét nghiệm.

Tại Malaysia, một chương trình dựa trên cộng đồng có tên là Project Rose dựa vào y tá và tình nguyện viên để sàng lọc phụ nữ, tuy vậy, mặc dù các xét nghiệm sàng lọc đã được miễn phí ở đó từ năm 1969 nhưng nhiều phụ nữ vẫn không tham gia các hoạt động sàng lọc nếu họ không bị bệnh. Điều này khiến tỷ lệ sàng lọc 3 năm ở mức dưới 25%, nhưng tình hình có thể đang được cải thiện dưới sự lãnh đạo của nhóm do Giáo sư Woo Yin Ling tại University of Malaya, nơi đã sàng lọc phụ nữ thành công bằng cách sử dụng phương pháp tự lấy mẫu trong cộng đồng [2].

Với phương pháp tự lấy mẫu, Giáo sư Woo đã chứng minh rằng những người không thường xuyên đến phòng khám cũng sẵn lòng thực hiện các xét nghiệm tự sàng lọc cho bản thân. Bà coi đây là một chương trình cộng đồng bổ trợ cho nỗ lực của chính phủ và cung cấp phương pháp tiếp cận có thể mở rộng để đạt được mục tiêu chấm dứt bệnh của WHO nhanh hơn.

Đạt mục tiêu chấm dứt bệnh trước năm 2030

Để đạt được mục tiêu 90-70-90 về chấm dứt ung thư cổ tử cung do Tổ chức Y tế Thế giới đề ra, các nền kinh tế nên ưu tiên nghiên cứu triển khai và tập trung vào các chính sách tích hợp hiệu quả các giải pháp chẩn đoán cho các hoạt động sàng lọc bền vững.

Tiến sĩ Leslie Mancuso, Chủ tịch kiêm CEO của Jhpiego cho biết: “Chúng tôi biết nhiều về ung thư cổ tử cung hơn hầu hết các loại ung thư khác trên thế giới”. “Thật xúc động khi thấy nhiều người cùng chung tay hướng tới mục tiêu chấm dứt bệnh, một mục tiêu thực sự nằm trong tầm tay chúng ta.”

Tài liệu tham khảo:

[1] Arbyn, M., Smith, S., Temin, S., Sultana, F. and Castle, P., 2018. Detecting cervical precancer and reaching underscreened women by using HPV testing on self samples: updated meta-analyses. BMJ, (363), p.k4823.

[2] Keane, A., Ng, C., Simms, K., Nguyen, D., Woo, Y., Saville, M. and Canfell, K., 2021. The road to cervical cancer elimination in Malaysia: Evaluation of the impact and cost‐effectiveness of human papillomavirus screening with self‐collection and digital registry support. International Journal of Cancer, 149(12), pp.1997-2009.

Chia sẻ điều này:

Xem thêm về cùng chủ đề

Chọn một bài viết có liên quan từ các tùy chọn bên dưới.

Chủ đề được đề xuất

Giải trình tự MÀU ĐỎ 2020Bệnh hiếm
Đọc tiếp theo
Scroll to Top