Tại hội nghị chuyên đề vệ tinh do Roche Diagnostics tài trợ ‘‘Từ nghiên cứu cơ bản đến dữ liệu lâm sàng: tương lai của công tác quản lý bệnh nhân’’ được tổ chức trong đại hội Quốc tế về Cầm máu (ISTH) 2021, Giáo sư Jonathan Douxfils đã thảo luận về giá trị của việc theo dõi thuốc chống đông máu đường uống trực tiếp (DOAC) và các chất ức chế con đường tiếp xúc.
Mặc dù DOAC đã được phát triển mà không cần phải theo dõi xét nghiệm thường quy, nhưng việc đánh giá phơi nhiễm thuốc và tác dụng chống đông máu rất hữu ích trong một số tình huống lâm sàng nhất định. Ví dụ, Giáo sư Douxfils đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc theo dõi nồng độ DOAC trong huyết tương để đánh giá chảy máu hoặc tái phát huyết khối, các nghiên cứu đã cho thấy mối liên quan giữa nồng độ DOAC trong huyết tương cao hơn và các biến chứng chảy máu mà không cần bảo vệ huyết khối bổ sung. Trong số các bệnh nhân dùng DOAC, các phân tích gần đây đã phát hiện thấy tỷ lệ xuất huyết biến cố cao hơn ở những người đáp ứng cao và biến cố huyết khối ở những người đáp ứng thấp. Với sự khác biệt giữa các cá thể này, theo dõi chống đông máu có thể cho phép quản lý cá nhân để tối ưu hóa kết quả của bệnh nhân. Các bối cảnh lâm sàng khác mà việc đo lường DOACs (thuốc chống đông đường uống trực tiếp) có ý nghĩa bao gồm trước các thủ thuật xâm lấn, bao gồm cả phẫu thuật khẩn cấp, để hướng dẫn việc sử dụng thuốc giải độc và cũng ở những bệnh nhân có dược động học không thể dự đoán, chẳng hạn như những người có trọng lượng cơ thể cực kỳ cao hoặc thấp. Để được hướng dẫn chi tiết về xét nghiệm đo lường DOAC, vui lòng xem các khuyến nghị từ Hội đồng Tiêu chuẩn hóa Quốc tế trong Huyết học [1,2].
Chất ức chế con đường tiếp xúc, thường hướng đích đến các Yếu tố XI hoặc XII đóng một vai trò quan trọng trong huyết khối, đại diện cho các liệu pháp chống đông máu mới đầy hứa hẹn. Vô số chiến lược ức chế Yếu tố XI/XII đã được đề xuất bao gồm sử dụng các chất ức chế peptit hoặc peptit nhỏ, kháng thể đơn dòng, oligonucleotit đối nghĩa và aptame. Do Yếu tố XI được hoạt hóa bởi thrombin và đóng một vai trò trong việc khuếch đại thế hệ thrombin, các chất ức chế Yếu tố XI như osocimab có liên quan đến tỷ lệ chảy máu tương đương với enoxaparin và cao hơn apixaban, do đó, cần có thêm bằng chứng để xem có thể kết hợp giám sát sinh học thường quy hoặc thỉnh thoảng hay không. Việc phát triển các xét nghiệm đặc hiệu có thể được khuyến nghị cho những tác nhân điều trị mới này, với các phương pháp có thể dựa trên phát hiện chromogenic, fluorogenic, xét nghiệm đông máu, phát hiện kháng nguyên và các xét nghiệm toàn cục về đông máu.
Tài liệu tham khảo:
[1] Gosselin RC, et al. Thromb Haemost 2018;118:437-450
[2] Douxfils J, et al. Thromb Haemost 2021;121:1008–1020.

