Điều phối xét nghiệm tại chỗ là nghề nghiệp mới nổi, tập trung vào việc triển khai các giải pháp xét nghiệm tại chỗ (POCT) trên nhiều môi trường y tế và bệnh viện, chẳng hạn như khoa cấp cứu, đơn vị chăm sóc tích cực, phòng khám chăm sóc ban đầu và xe y tế. Mặc dù vẫn còn tương đối mới ở khu vực Châu Á-Thái Bình Dương, ngày càng nhiều nhà cung cấp dịch vụ y tế đang thuê các chuyên gia chuyên trách để quản lý danh mục POCT của họ. Vai trò của các điều phối viên xét nghiệm tại chỗ bao gồm nhiều trách nhiệm, từ đánh giá và mua sắm các xét nghiệm mới đến đào tạo những người vận hành POCT và đảm bảo rằng các xét nghiệm được sử dụng tuân theo tất cả các tiêu chuẩn về chất lượng và tuân thủ. Những trách nhiệm này đòi hỏi cả kỹ năng phân tích và lãnh đạo, cũng như hiểu biết về toàn bộ các công nghệ POCT và khả năng xử lý cơ cấu tổ chức phức tạp của hệ thống bệnh viện và y tế.

Cảm ơn bạn.
Bạn đã đăng ký bản tin thành công!
Bạn chưa nhận được email? Hãy đảm bảo kiểm tra cả thư mục thư rác của bạn! Bạn có thể liên hệ với [email protected] để được hỗ trợ thêm
Ngoài ra, bạn có thể tìm duyệt thêm nội dung từ Thoughleadership
Ở khu vực Châu Á-Thái Bình Dương, các hệ thống y tế ở cả quốc gia tiên tiến và môi trường ít tài nguyên đang quan tâm đến việc thuê các điều phối viên xét nghiệm tại chỗ. Bài viết này dựa trên các cuộc phỏng vấn với một số chuyên gia POCT để hiểu được vai trò thay đổi của các điều phối viên xét nghiệm tại chỗ trong khu vực và các cơ hội nghề nghiệp mà lĩnh vực này mang lại cho các chuyên gia phòng thí nghiệm và chuyên gia y tế.
Xây dựng đội ngũ POCT chuyên trách tại Đài Loan
Tại Far Eastern Memorial Hospital (FEMH), một bệnh viện tư nhân lớn ở Đài Loan, các khoa bệnh viện khác nhau được sử dụng để quản lý POCT mà không cần giám sát tập trung. Theo Tiến sĩ Fang Yeh Chu, Giám đốc Khoa Bệnh học Lâm sàng và QMC tại FEMH, điều này gây ra căng thẳng không cần thiết đối với các bác sĩ, y tá và nhân viên bệnh viện bận rộn và dẫn đến nhiều thách thức hoạt động khác nhau. Tiến sĩ Chu triệu tập một nhóm công tác để kiểm tra vấn đề, và sau nửa năm đánh giá, ông quyết định thành lập một nhóm chuyên trách để đảm bảo triển khai có hiệu quả và kiểm soát chất lượng thường xuyên đối với POCT của bệnh viện. Lúc đầu, ông phải đối mặt với sự phản đối từ các phòng ban muốn duy trì hiện trạng, nhưng khi những lợi ích của phương pháp này ngày càng trở nên rõ ràng, ông sớm nhận được sự hỗ trợ của cộng đồng bệnh viện rộng lớn hơn. “Cần có thời gian để vượt qua những cách suy nghĩ khác nhau của các nhân viên và chuyên khoa khác nhau, nhưng thông qua quá trình này, chất lượng chăm sóc bệnh nhân đã được cải thiện”, bác sĩ Chu nói. Trong tương lai, ông tin tưởng rằng sẽ có nhiều bệnh viện ở Đài Loan và khắp châu Á áp dụng các mục tiêu chất lượng POCT cao hơn, bao gồm các tiêu chuẩn công nhận cụ thể về POCT như ISO 22870 và thành lập các nhóm POCT chuyên trách để giúp đạt được các tiêu chuẩn đó.
Nâng cao năng lực điều phối viên xét nghiệm tại chỗ tại Việt Nam
Tại Franco-Vietnam Hospital (FVH), một bệnh viện trung tâm tư nhân 220 giường tại thành phố Hồ Chí Minh (TP. HCM), Tiến sĩ Nguyễn Thụy Loan Chi đã dẫn đầu việc thành lập các chương trình POCT của FVH trong vài năm qua. Trong một bài báo gần đây cho Point of Care mà bà là đồng tác giả với Tiến sĩ Gerald Kost, một trong những chuyên gia hàng đầu thế giới về POCT, bà chia sẻ kinh nghiệm và nghiên cứu có thể hỗ trợ mục tiêu giáo dục thế hệ điều phối viên xét nghiệm tại chỗ tiếp theo ở Việt Nam [1]. TS. Nguyễn đã thấy khả năng cải thiện đáng kể trong lĩnh vực này. Dựa trên đánh giá nhu cầu của 22 bệnh viện và 8 trạm y tế cộng đồng tại thành phố Hồ Chí Minh, cũng như 16 bệnh viện cấp tỉnh đến từ 8 vùng địa lý ở Việt Nam, nhóm nghiên cứu phát hiện ra rằng nhiều bệnh viện có POCT không có giám sát xét nghiệm và thực hiện POCT mà không có kiểm soát chất lượng nội bộ hoặc bên ngoài. Các bác sĩ lâm sàng đã không được thông báo đầy đủ về các lựa chọn POCT cho các trường hợp khẩn cấp, chăm sóc khẩn cấp và bối cảnh tại giường bệnh. Với sự thiếu vắng gần như hoàn toàn của các điều phối viên xét nghiệm tại chỗ tại các bệnh viện và hướng dẫn quốc gia về sử dụng POCT, nhiều xét nghiệm trọng yếu không được cung cấp hoặc sử dụng không tối ưu. Mặc dù đã có những sáng kiến mang tính giáo dục và trao đổi nhằm nâng cao năng lực của điều phối viên xét nghiệm tại chỗ, Tiến sĩ Nguyễn lưu ý rằng Việt Nam vẫn tiếp tục đi sau các nước láng giềng khu vực như Thái Lan và Malaysia; cả hai nước này đều có hướng dẫn chính thức về POCT [2,3]. Tài liệu đưa ra kiến nghị tiếp tục phát triển chính sách ở Việt Nam và Đông Nam Á.
Quản lý POC dưới dạng quy tắc y tế
Khi điều phối xét nghiệm tại chỗ được phổ biến thành loại công việc, một số người tin rằng sự phức tạp và tầm quan trọng của quản lý POCT đòi hỏi phải tạo ra một chuyên khoa y tế hoàn toàn mới gọi là “khoa học xét nghiệm tại chỗ” [4]. Chuyên khoa này hướng tới vận hành xuất sắc đối với việc sử dụng POCT trong cả môi trường lâm sàng và cộng đồng, cũng như những đóng góp rộng rãi hơn cho nghiên cứu, chính sách và đổi mới về POCT.

Tài liệu tham khảo:
[1] Nguyen C, Kost GJ. “The Status of Point-of-Care Testing and Coordinators in Vietnam: Needs Assessment, Technologies, Education, Exchange, and Future Mission.” Point of Care (2020) 19.1:19-24. doi: https://10.1097/POC.0000000000000196
[2] The Point of Care Testing Steering Committee. National Point of Care Testing Policy and Guidelines. Putrajaya, Malaysia: Ministry of Health Malaysia Medical Development Division. July 2012. Available at: http://moh.gov.my/images/gallery/Garispanduan/National_Point_of_Care_Testing.pdf. Accessed 17 Sept 2020.
[3] Ministry of Public Health. Thailand’s National Guidelines for Point-of-care Testing (POCT). Bangkok, Thailand: MOPH; 2015. Available at: http://blqs.dmsc.moph.go.th/assets/Userfile/POCTguideline.pdf. Accessed 17 Sept 2020.
[4] Liu X, Zhu X, Kost GJ et al. “The creation of point-of-careology.” Point of Care (2020) 18.3: 77-84. [open access] doi: https://doi.org/10.1097/POC.0000000000000191
[5] Kost GJ. “Designing and Interpreting COVID-19 Diagnostics: Mathematics, Visual Logistics, and Low Prevalence.” Acrh Pathol Lab Med (2020) doi: https://doi.org/10.5858/arpa.2020-0443-SA


