Chẩn đoán tình trạng đông máu giúp quản lý tiêm chủng COVID-19 và xử trí bệnh nhân như thế nào

Tháng 8 4, 2021 Bullet Bài viết
Chia sẻ điều này:

Nhiễm COVID-19 có liên quan đến tình trạng hình thành huyết khối, hoặc cục máu đông, ở các tĩnh mạch và động mạch. Nguy cơ hình thành những cục máu đông cao nhất đối với những người nhập viện do nhiễm COVID-19, xảy ra ở khoảng 5% số bệnh nhân nhập viện tại các khoa bệnh thông thường và lên tới 20% đối với những bệnh nhân ở đơn vị chăm sóc tích cực (ICU), đang sử dụng các thiết bị hỗ trợ sự sống. Nguy cơ hình thành cục máu đông ở những người mắc COVID-19 nhưng chưa phải nhập viện thấp hơn, ở mức khoảng 1% [1].

Mặc dù không phổ biến, việc tiêm vắc-xin có nguồn gốc từ adenovirus cũng liên quan đến khả năng hình thành những máu đông thông qua quá trình giảm tiểu cầu huyết khối do vắc-xin (VITT). Để hiểu rõ hơn về các nguy cơ chính liên quan đến đông máu và việc cân nhắc tiêm chủng COVID-19 và quản lý bệnh nhân, Roche Diagnostics Châu Á Thái Bình Dương gần đây đã trao đổi với Bác sĩ Ng Heng Joo, Cố vấn cấp cao & Trưởng khoa Huyết học tại Bệnh viện Đa khoa Singapore.

Các dấu ấn đông máu trong chăm sóc COVID-19 và đánh giá sau tiêm chủng

Ngày càng nhiều các bằng chứng được tìm thấy trong phòng thí nghiệm cho thấy những thay đổi bất thường về đông máu ở bệnh nhân nhiễm COVID-19 có thể là kết quả của phản ứng viêm nặng nề kéo dài chứ không liên quan đến khả năng đông máu nội tại. Sự gia tăng đáng kể các protein gây đông máu có thể xảy ra ở những bệnh nhân bị nhiễm COVID-19 nặng, tương ứng với phản ứng của giai đoạn cấp tính nặng nề. Một nhóm nhỏ bệnh nhân có viêm phổi nặng đã tiến triển thành nhiễm trùng huyết do virus, đông máu nội mạch rải rác (DIC), và suy đa tạng.

Vì D-Dimer là dấu hiệu dương tính đối với bệnh nhân bị huyết khối nên đã có nhiều nghiên cứu được thực hiện nhằm cố gắng kết hợp D-Dimer vào việc dự đoán mức độ nghiêm trọng của COVID-19. “D-Dimer đã trở thành một trong những tiêu chí trong thang điểm đánh giá nguy cơ phát triển huyết khối tĩnh mạch ở bệnh nhân COVID-19”, Bác sĩ Ng. lưu ý. “Có một chút khó khăn trong việc xác định các ngưỡng lo ngại về mức độ nghiêm trọng của bệnh và mức độ ảnh hưởng đến việc tăng ngưỡng điều trị cho bệnh nhân.”

“Một số ví dụ phổ biến về các mô hình đánh giá nguy cơ đã được sử dụng bao gồm điểm cải thiện D-Dimer cũng như chỉ số Caprini”, ông cho biết thêm. “Đã có một số nghiên cứu xác nhận cho thấy chỉ số này giúp thực hiện khá tốt việc dự đoán bệnh nhân nào có thể được phân loại là nguy cơ thấp, nguy cơ trung bình hoặc nguy cơ cao hình thành huyết khối tĩnh mạch và từ đó mà đưa ra cách sử dụng thuốc chống đông máu thích hợp cho bệnh nhân.”

Đối với bệnh nhân VITT (giảm tiểu cầu huyết khối do vắc-xin), xét nghiệm thường cho thấy nồng độ fibrinogen thấp và D-Dimer tăng rất cao trên mức chuẩn trong hình thành huyết khối tĩnh mạch. “Chúng tôi biết khả năng VITT (giảm tiểu cầu huyết khối do vắc-xin) khởi phát thường trong khoảng từ 5 đến 28 ngày sau khi tiêm chủng”, Bác sĩ Ng. nhấn mạnh. “Chúng tôi biết rằng COVID-19 gây ra huyết khối ở những vị trí bất thường như huyết khối xoang tĩnh mạch não cũng như huyết khối tĩnh mạch lách.”

Kháng thể kháng yếu tố tiểu cầu 4 (PF4) đã được xác định ở bệnh nhân VITT (giảm tiểu cầu huyết khối do vắc-xin), do đó có sự tương đồng với giảm tiểu cầu do heparin (HIT) mặc dù không điều trị bằng heparin trước đó. Kháng thể kháng PF4 có thể được phát hiện bằng xét nghiệm ELISA HIT nhưng đây thường không phải là với các xét nghiệm kiểm tra nhanh, mà thường dựa trên sự phát quang hóa học cũng như các xét nghiệm latex.

Những thách thức trong xét nghiệm đông máu trong thời kỳ COVID-19

Do có liên quan với khả năng hình thành huyết khối, COVID-19 chắc chắn đã gây ra nhiều thách thức trong việc chẩn đoán và xử trí bệnh nhân. Trong giai đoạn đầu của đại dịch, một trong những thách thức này là hiểu được sinh lý bệnh hoặc vai trò của huyết khối ở những bệnh nhân mắc COVID-19. Vì vậy việc cố gắng phân tầng bệnh nhân có nguy cơ cao và vai trò của liệu pháp chống đông cho nhóm bệnh nhân đó là một thách thức.

Một thách thức khác trong chẩn đoán là sự xuất hiện của của VITT ( giảm tiểu cầu huyết khối do vắc-xin). Trong khi xét nghiệm kháng thể kháng PF4 đã được thiết kế tốt để phát hiện HIT, việc sử dụng xét nghiệm và độ nhạy của xét nghiệm ở bệnh nhân VITT (giảm tiểu cầu huyết khối do vắc-xin) là khác biệt và khác nhau. Để bổ sung thêm cho việc chứng minh có kháng thể kháng PF4, các xét nghiệm đã được phát triển để tìm ra sự hiện diện của các kháng thể kích hoạt tiểu cầu [2].

Thách thức này dẫn đến sự phát triển của các xét nghiệm bổ sung dựa trên cơ sở đã có – ví dụ như xét nghiệm kiểm tra khả năng kết tập tiểu cầu của heparin (HIPAA). Tương tự với một xét nghiệm HIPAA cải tiến, các nhà nghiên cứu đã phát triển một xét nghiệm kết tập tiểu cầu do yếu tố tiểu cầu 4 gây ra để cố gắng xác định rõ hơn nguyên nhân hoặc chẩn đoán bệnh nhân mắc VITT (giảm tiểu cầu huyết khối do vắc-xin) đúng hơn. Sự hoạt hóa tiểu cầu hoặc các kháng thể bằng cách sử dụng phương pháp đếm tế bào có trong dòng chảy đã được sử dụng để kiểm tra trong phòng xét nghiệm. Các xét nghiệm này vừa hữu ích vừa khó khăn để phát triển nghiên cứu nhưng chúng đã được chứng minh vai trò trong chẩn đoán VITT (giảm tiểu cầu huyết khối do vắc-xin).

Một thời đại mới của chẩn đoán tình trạng đông máu

Bệnh đông máu do COVID-19 tạo ra là một thể bệnh riêng biệt với sự tăng cao rõ rệt của D-Dimer. COVID-19 liên quan đến nguy cơ cao huyết khối vi mạch và mạch máu lớn và tăng tỷ lệ thất bại khi sử dụng chống đông. Không giống như nhiễm trùng huyết thông thường, thuốc chống đông đóng một vai trò quan trọng trong việc xử trí bệnh nhân COVID-19 nhờ tác động tích cực đến sự sống còn. Các dấu ấn sinh học và hệ thống tính điểm khác nhau có thể hữu ích trong việc phân loại bệnh nhân dựa vào các dạng nguy cơ tương ứng với mục đích sử dụng chống đông cũng như chẩn đoán tình trạng hình thành cục máu đông sau tiêm vắc-xin trong thời kỳ COVID-19.

Tài liệu tham khảo:

[1] Các chuyên gia ISTH giải thích hiện tượng đông máu mới ở bệnh nhân COVID-19 nhập viện.

[2] Scully, M. et al (2021). Kháng thể bệnh lý kháng yếu tố tiểu cầu 4 sau khi tiêm chủng ChAdOx1 nCoV-19. Tạp chí Y học New England. 384.pp2202-2211.

Chia sẻ điều này:

Xem thêm về cùng chủ đề

Chọn một bài viết có liên quan từ các tùy chọn bên dưới.

Chủ đề được đề xuất

Giải trình tự MÀU ĐỎ 2020Bệnh hiếm
Đọc tiếp theo
Scroll to Top