Xét nghiệm kháng thể COVID-19 trong thời kỳ hậu vắc-xin

Tháng 7 12, 2021 Bullet Bài viết
Chia sẻ điều này:

Với sự ra đời của vắc-xin chống lại virus SARS-CoV-2, đại dịch COVID-19 đã bước vào một giai đoạn mới. Trong một hội thảo web gần đây được tổ chức bởi Roche Diagnostics Châu Á Thái Bình Dương, hai chuyên gia xét nghiệm hàng đầu đã thảo luận về cách các chiến lược thử nghiệm có thể phát triển trong thời kỳ hậu vắc-xin, bao gồm cả thay đổi vai trò của thử nghiệm kháng thể. Dưới đây là một số điểm chính cần lưu ý

Kiểm tra phối kếthợp cho kết quả tốt hơn

Vào những ngày đầu của đại dịch, các nhân viên phòng thí nghiệm đã phải vội vã phát triển hoặc triển khai bất kỳ xét nghiệm nào có thể để xét nghiệm SARS-CoV-2. Hiện nay, có rất nhiều xét nghiệm, từ xét nghiệm nhanh tìm kháng nguyên đến xét nghiệm phân tử và xét nghiệm huyết thanh.

Vì các phòng xét nghiệm hiện nay đã tiếp cận được rất nhiều phương án xét nghiệm, nên họ cần xem xét việc thực hiện kết hợp xét nghiệm nào với nhau để có kết quả tốt nhất, theo Giáo sư Aw Tar Choon, Tư vấn cấp cao và Giám đốc Bệnh học hóa học tại Bệnh viện Đa khoa Changi ở Singapore. Ví dụ, sử dụng các xét nghiệm kháng thể với các xét nghiệm phân tử cho kết quả chi tiết hơn về sức khỏe của bệnh nhân. Hai kết quả đều âm tính có nghĩa là người đó không bị phơi nhiễm với vi rút, trong khi hai kết quả đều dương tính có nghĩa là đã có một tình trạng nhiễm trùng đang hoạt động đủ lâu để hệ miễn dịch tạo ra một phản ứng liên kết. Kết quả xét nghiệm PCR dương tính và xét nghiệm kháng thể âm tính cho thấy bệnh nhân đang ở giai đoạn đầu của quá trình nhiễm bệnh.

Giáo sư Aw cho biết: “Hai xét nghiệm sẽ luôn cung cấp cho chúng ta thông tin rõ ràng và tốt hơn nhiều”, đồng thời lưu ý rằng sự kết hợp này làm tăng giá trị dự đoán dương tính cho các xét nghiệm PCR.

Thực hiện hai xét nghiệm cũng giúp khắc phục những thách thức về mặt thời gian của các xét nghiệm đang có hiện nay. Xét nghiệm PCR thực hiện quá muộn có thể cho kết quả âm tính ngay cả với những người đã bị nhiễm bệnh, trong khi xét nghiệm huyết thanh thực hiện quá sớm có thể không phát hiện được giai đoạn đầu của phản ứng miễn dịch. Đối với một số người, kháng thể có thể được phát hiện trong vòng 48 giờ sau khi tiếp xúc với vi-rút; đối với những người khác, phải mất ít nhất một tuần mới có thể đo được mức kháng thể. “Đối với xét nghiệm kháng thể, thời điểm thu nhận mẫu là rất quan trọng,” Giáo sư Aw nói.

Những xét nghiệm nhanh tìm kháng nguyên được biết là có độ chính xác thấp hơn, và nhìn chung, có tác dụng tốt nhất trong giai đoạn đầu nhiễm bệnh. Những xét nghiệm này chủ yếu được khuyến nghị để tự kiểm tra nhằm phát hiện các trường hợp nhiễm bệnh nhanh hơn hoặc trong những trường hợp mà xét nghiệm phân tử không khả thi do tính sẵn có, khả năng chi trả, hạn chế về quy trình làm việc hoặc các yếu tố khác. Tuy nhiên, các xét nghiệm nhanh tìm kháng nguyên cũng có thể được kết hợp với các xét nghiệm kháng thể để có kết quả tốt hơn.

Các nghiên cứu theo chiều dọc đang được tiến hành

Khi các nhà nghiên cứu tìm cách hiểu phản ứng của hệ miễn dịch với nhiễm trùng tự nhiên và với tiêm chủng, các nghiên cứu theo chiều dọc sẽ rất quan trọng. Một trong những câu hỏi chính mà các nhà nghiên cứu muốn trả lời là: ở nồng độ kháng thể nào thì có tác dụng bảo vệ cơ thể người?

Một trong những nhà nghiên cứu đó là Giáo sư Stefan Holdenrieder, Giám đốc Viện Xét nghiệm Y học tại Trung tâm Tim mạch Đức thuộc Đại học Kỹ thuật Munich, Đức. Hiện tại, ông đang thực hiện các nghiên cứu theo chiều dọc được thiết kế để theo dõi phản ứng miễn dịch bằng cách sử dụng các dấu ấn khác nhau trên nhiều đối tượng theo thời gian. Kết quả của ông, cùng với các nghiên cứu đang được tiến hành do Giáo sư Aw và những các nhà nghiên cứu khác dẫn đầu, sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về mối tương quan giữa các mức hiệu giá kháng thể khác nhau với khả năng bảo vệ thực tế chống lại vi-rút.

Trong các nghiên cứu này, các nhà khoa học đang đánh giá nồng độ IgG và IgM tương ứng các loại kháng thể đối với protein gai và nucleocapsid. Các kháng thể tương thích với protein gai, mục tiêu chung của vắc-xin COVID-19, có thể được sử dụng để mô tả phản ứng sau khi tiêm chủng. Các kháng thể tương với nucleocapsid, chưa được vắc-xin nhắm tới, cho thấy phản ứng với nhiễm trùng tự nhiên. Các nghiên cứu theo chiều dọc sẽ đánh giá cả hai loại phản ứng miễn dịch ở những người được tiêm vắc-xin và nhằm mục đích xác định xem những người đó có xuất hiện các phản ứng nhiễm trùng đột phá sau khi tiêm vắc-xin hay không.

Cho đến nay, các nghiên cứu theo chiều dọc đã chứng minh được khả năng bảo vệ mạnh mẽ và liên tục của các loại vắc-xin đang được sử dụng rộng rãi nhất. Có thể đo được nồng độ kháng thể trong nhiều tháng ở những người được tiêm vắc-xin mRNA của Moderna hoặc Pfizer/BioNTech. Giáo sư Aw lưu ý: “Có sự lạc quan rằng vắc-xin sẽ có hiệu quả trong ít nhất một năm”.

Tại Đức, nhóm nghiên cứu của Giáo sư Holdenrieder cũng đang cố gắng tìm hiểu xem có mối tương quan nào giữa nồng độ kháng thể và sự hiện diện của kháng thể trung hòa hay không. Đối với tất cả những người tham gia nghiên cứu, nhóm nghiên cứu sẽ lấy mẫu máu vào thời điểm bốn tuần, ba tháng, sáu tháng và 12 tháng sau khi tiêm liều vắc-xin thứ hai. Ngoài việc được kiểm tra bắng xét nghiệm kháng thể, xét nghiệm tế bào, xét nghiệm kích thích tế bào T, và nhiều xét nghiệm khác nữa, tất cả các mẫu sẽ được lưu trữ để phân tích trong tương lai.

Xét nghiệm miễn dịch rất hữu ích nhưng không phải lúc nào cũng được khuyến khích thực hiện

Ngoài các nghiên cứu theo chiều dọc, xét nghiệm miễn dịch để đo nồng độ kháng thể ở những người đã hồi phục sau COVID-19 hoặc đã được tiêm vắc-xin có thể rất quan trọng — nhưng các chuyên gia cho biết có thể sẽ không cần thiết phải thực hiện trên toàn cầu.

Về mặt kỹ thuật, điều này cũng có thể gặp khó khăn. Giáo sư Holdenrieder cho biết: “Các phòng thí nghiệm đang phải đối mặt với rất nhiều thách thức”, đồng thời chỉ ra có rất nhiều dạng phản ứng miễn dịch khác nhau tùy thuộc vào loại phơi nhiễm, loại nhiễm trùng, khoảng thời gian kéo dài tình trạng nhiễm trùng và tình trạng tiêm chủng. Do tỷ lệ kháng thể giảm dần theo thời gian nên ông lưu ý rằng có thể cần phải bắt đầu đánh giá tế bào T và tế bào B để đánh giá khả năng miễn dịch của mỗi cá nhân.

Giáo sư Aw chỉ ra rằng xét nghiệm miễn dịch thường không được thực hiện đối với các loại vắc-xin như vắc-xin cúm, nhưng việc kiểm tra phản ứng miễn dịch được khuyến nghị đối với vắc-xin viêm gan B. Ông không mong đợi rằng các phòng thí nghiệm sẽ cần phải thực hiện những xét nghiệm này cho tất cả mọi người. Tuy nhiên, một số nhóm nhất định — chẳng hạn như bệnh nhân ghép tạng có hệ thống miễn dịch suy yếu, đây là những người có thể cần tiêm mũi tăng cường thứ ba để được bảo vệ miễn dịch — sẽ phù hợp để xét nghiệm cẩn thận hơn. Ông nói thêm rằng nếu nguồn cung cấp vắc-xin lại bị hạn chế nghiêm trọng, thì xét nghiệm miễn dịch có thể được sử dụng để xác định những người nào cần tiêm mũi tăng cường nhất.

Chia sẻ điều này:

Xem thêm về cùng chủ đề

Chọn một bài viết có liên quan từ các tùy chọn bên dưới.

Chủ đề được đề xuất

Giải trình tự MÀU ĐỎ 2020Bệnh hiếm
Đọc tiếp theo
Scroll to Top