Trong một hội thảo trên web được tổ chức vào World Thrombosis Day 2022, hai chuyên gia về đông máu — Giáo sư Anna Falanga, Giáo sư Huyết học tại Đại học Milan Biocca và Cinzia Giaccherini, một nhà sinh học nghiên cứu với hơn 10 năm kinh nghiệm về cầm máu và huyết khối — đã thảo luận về vai trò dự đoán của các dấu ấn sinh học trong huyết khối liên quan đến ung thư (CAT).
Giáo sư Anna Falanga bắt đầu bằng việc trình bày tổng quan về dự đoán và phòng ngừa nguy cơ CAT. Các nghiên cứu đoàn hệ ở Vương quốc Anh và Đan Mạch đã chỉ ra rằng bệnh nhân ung thư có nguy cơ mắc huyết khối tĩnh mạch (VTE) cao gấp 4–11 lần so với bệnh nhân không mắc ung thư, tùy thuộc vào loại ung thư; với VTE ảnh hưởng đến tỷ lệ bệnh tật và tử vong ở bệnh nhân ung thư.
Để ngăn ngừa VTE, cần xác định những bệnh nhân ung thư có nguy cơ cao, những người có thể hưởng lợi từ việc phòng ngừa huyết khối ban đầu. Các mô-đun đánh giá nguy cơ (RAM) như điểm Khorana có thể dự đoán nguy cơ VTE ở bệnh nhân. Các RAM có thể được bổ sung bằng các dấu ấn sinh học để cải thiện khả năng dự đoán.
Cinzia Giaccherini sau đó đã thảo luận về các dấu ấn sinh học dùng để dự đoán CAT và dự báo tiến triển bệnh ở bệnh nhân ung thư phổi. Các dấu ấn sinh học đông máu như D-dimer được cho là có thể hữu ích trong việc đánh giá nguy cơ huyết khối cá nhân của bệnh nhân. Có bằng chứng xác thực việc sử dụng các dấu ấn sinh học này ở bệnh nhân ung thư phổi, trong đó chúng cũng có thể là chỉ thị của tiên lượng xấu.
Nhiều nghiên cứu đã báo cáo mối liên quan đáng kể giữa mức D-dimer huyết tương tăng cao với khối u lớn, sự tiến triển bệnh và tỷ lệ tử vong. Cần có thêm các nghiên cứu để củng cố bằng chứng hiện tại và khuyến khích việc sử dụng các mô hình dựa trên dấu ấn sinh học đông máu trong thực hành lâm sàng trong tương lai.
Trong phần Hỏi Đáp, thuyên tắc phổi đã được nhắc đến là phổ biến nhất ở bệnh nhân ung thư phổi, với chẩn đoán thường được phát hiện trong quá trình sàng lọc ung thư. Về việc điều trị VTE bằng edoxaban, khuyến cáo tiếp tục điều trị trong 12 tháng với cùng liều, sau đó mới điều chỉnh nếu vẫn còn VTE.
D-dimer được ghi nhận là một dấu ấn tiềm năng cho VTE và là chỉ thị dự báo tiến triển bệnh. Có giả thuyết rằng nhóm đối tượng lớn tuổi và các phương pháp điều trị ung thư mới có thể có nguy cơ huyết khối ngày càng tăng ở tất cả các loại ung thư.
Giáo sư Anna Falanga, MD, là Giáo sư chuyên khoa Huyết học tại Đại học Milan Biocca và Trưởng khoa Huyết học miễn dịch và Y học truyền máu và Trung tâm huyết khối và cầm máu tại Bệnh viện Papa Giovanni XXIII, ở Bergamo, Ý. Bà là tác giả của hơn 300 ấn phẩm và là biên tập viên khách mời của 21 tập, bà cũng là một chuyên gia trong lĩnh vực ung thư và huyết khối.
Cinzia Giaccherini là một nhà sinh học nghiên cứu với hơn 10 năm kinh nghiệm tại Phòng xét nghiệm Cầm máu và Huyết khối thuộc Khoa Miễn dịch Huyết học và Y học Truyền máu tại Bệnh viện Papa Giovanni XXIII ở Bergamo (Ý). Bà cũng đang theo học chương trình chuyên sâu sau đại học về Thống kê Y học và Sinh học Thống kê tại Đại học Milan.
Nguồn thông tin bổ sung:
[1] Falanga, A. et al. (2022) “How well do European patients understand cancer-associated thrombosis? A patient survey,” Cancer Treatment and Research Communications, 31, p. 100557. Truy cập: https://doi.org/10.1016/j.ctarc.2022.100557.
[2] Falanga, A. et al. (2021) “Management of cancer-associated thrombosis: Unmet needs and future perspectives,” TH Open, 05(03). Truy cập: https://doi.org/10.1055/s-0041-1736037.
[3] Falanga, A. et al. (2022) “Thrombotic complications in patients with cancer: Advances in pathogenesis, prevention, and treatment—a report from ICTHIC 2021,” Research and Practice in Thrombosis and Haemostasis, 6(5). Truy cập: https://doi.org/10.1002/rth2.12744.
[4] Pesenti, M. et al. (2020) “Thrombin generation and D-dimer significantly predict for early disease progression and mortality in patients with gastrointestinal cancer,” Blood, 136(Supplement 1), pp. 32–32. Truy cập: https://doi.org/10.1182/blood-2020-136631.
[5] Falanga, A. et al. (2019) “Thrombotic risk assessment in a prospective cohort of newly diagnosed ambulatory cancer patients candidate to Chemotherapy,” Blood, 134(Supplement_1), pp. 3642–3642. Truy cập: https://doi.org/10.1182/blood-2019-129901.


