Sàng lọc và tiêm vắc-xin HPV (Human Papillomavirus, virus gây u nhú ở người) ở Châu Á: vượt qua rào cản tiếp cận

Tháng 6 14, 2021 Bullet Bài viết
Chia sẻ điều này:

Ung thư cổ tử cung là loại ung thư phổ biến thứ 4 ở phụ nữ trên thế giới. Do nhiễm virus virus gây u nhú ở người (HPV) {Human Papillomavirus}, ung thư cổ tử cung có thể phòng ngừa được bằng cách sử dụng các biện pháp dự phòng như vắc-xin HPV (Human Papillomavirus, virus gây u nhú ở người) và các chương trình sàng lọc chặt chẽ.

Thông qua việc triển khai Chiến lược toàn cầu nhằm đẩy nhanh việc xóa sổ ung thư cổ tử cung vào cuối năm 2020, Tổ chức Y tế Thế giới đang giải quyết căn bệnh này bằng chiến lược ba tác động: tiêm chủng, sàng lọc và điều trị. Để thành công, Tổ chức sẽ cần áp dụng phương pháp tiếp cận phù hợp với từng quốc gia khác nhau ở Châu Á – Thái Bình Dương, nơi tỷ lệ mắc bệnh nhiễm HPV (Human Papillomavirus, virus gây u nhú ở người) dao động từ 6 phụ nữ trên mỗi 100.000 phụ nữ ở Úc đến 23,4 phụ nữ trên mỗi 100.000 phụ nữ ở Indonesia.

Tầm quan trọng của nhận thức và chấp nhận

Nhiều phụ nữ ở các nước có thu nhập thấp đến trung bình có kiến thức hạn chế về HPV (Human Papillomavirus, virus gây u nhú ở người) và ung thư cổ tử cung. Giáo dục sức khỏe vẫn là nền tảng để nâng cao nhận thức trong cộng đồng phụ nữ này và có thể giúp giải quyết sự kỳ thị xã hội thường đi kèm với bệnh lây truyền qua đường tình dục. Bằng cách tạo điều kiện cho các cuộc trò chuyện về HPV (Human Papillomavirus, virus gây u nhú ở người) một cách cởi mở, phụ nữ có nhiều khả năng tham gia các buổi sàng lọc mà không sợ bị kỳ thị xã hội. Xét cho cùng, 80% nam giới và phụ nữ có khả năng bị nhiễm HPV (Human Papillomavirus, virus gây u nhú ở người) trong đời.

Về quy trình xét nghiệm, tự lấy mẫu là một cách tiếp cận khác để chống lại sự kỳ thị xã hội đối với việc sàng lọc ung thư cổ tử cung. Cách tiếp cận này có khả năng tiếp cận cả những phụ nữ ở nhóm yếu thế nhất, chẳng hạn như những người có khả năng tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe hạn chế hoặc những người còn không dám tiếp cận do tình trạng nhập cư của họ. Nghiên cứu đã cho thấy thái độ tích cực áp đảo đối với phương pháp thử nghiệm này, phương pháp này cũng đã được đưa vào hướng dẫn lâm sàng của một số quốc gia.

Ở Châu Á, một số chương trình y tế công cộng đang giúp nâng cao nhận thức. Ví dụ, dự án Teal là một chương trình ở Hồng Kông tập hợp nhiều đối tác chăm sóc sức khỏe và tổ chức từ thiện để cung cấp dịch vụ xét nghiệm chung cho những phụ nữ có hoàn cảnh khó khăn. Thông qua hoạt động tiếp cận tích cực, hàng trăm phụ nữ đã được giáo dục và sàng lọc trong các hoạt động giai đoạn I và II. Kể từ đó, họ đã bắt đầu giai đoạn III, bao gồm cả việc tự lấy mẫu. Được trang bị những thông tin thực tế và kinh nghiệm cá nhân, những phụ nữ này có thể khuếch đại những thông điệp quan trọng về HPV (Human Papillomavirus, virus gây u nhú ở người) trong cộng đồng của họ.

Chương trình Rose [1] ở Malaysia có cách tiếp cận và mục tiêu tiếp cận tương tự. Thông qua việc sử dụng phương pháp tự lấy mẫu tại các phòng khám và các công cụ theo dõi sức khỏe kỹ thuật số đơn giản, 91% các trường hợp dương tính [2] đã quay lại để sàng lọc thêm với 99% bày tỏ sự quan tâm đến việc xét nghiệm thường quy. Các chương trình tự lấy mẫu mang lại lợi ích cho nhiều cộng đồng và có thể truyền cảm hứng hành động ở các quốc gia khác.

Ngoài việc nâng cao nhận thức và tăng cường sự chấp nhận trong cộng đồng, các nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe (HCP) cần được giáo dục về việc chủ động tuyên truyền kiến thức về HPV (Human Papillomavirus, virus gây u nhú ở người) cho cha mẹ hoặc phụ nữ trẻ. Bằng cách ủng hộ tiêm chủng và sàng lọc, HCP (healthcare provider, các nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe) có thể hỗ trợ cha mẹ ra quyết định hoặc hướng dẫn hành trình của bệnh nhân thông qua xét nghiệm.  Tuy nhiên, ngay cả trong số các HCP (healthcare providers, các nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe) [3], tỷ lệ tiêm vắc-xin và sàng lọc vẫn thấp.

Các khuôn khổ chương trình chăm sóc sức khỏe và nguồn hỗ trợ khác nhau giữa các quốc gia

Cơ sở hạ tầng y tế quốc gia có sự khác biệt lớn giữa các quốc gia. Điều này cũng góp phần tạo nên sự bất bình đẳng trong các chương trình tiêm chủng và sàng lọc ở Châu Á – Thái Bình Dương. Úc vẫn là một trong những quốc gia dẫn đầu trong khu vực. Năm 1991, chương trình sàng lọc được trợ cấp đã đạt được tỷ lệ tiếp nhận gần 60% trường hợp bệnh [4]. Vào năm 2007, chỉ một năm sau khi vắc-xin HPV (Human Papillomavirus, virus gây u nhú ở người) được cấp phép sử dụng, Việt Nam đã trở thành một trong những quốc gia đầu tiên ở Châu Á – Thái Bình Dương cung cấp vắc-xin miễn phí, hướng đến đối tượng là trẻ em trong độ tuổi đi học. Úc hiện đang trên đà tiến tới xóa sổ ung thư cổ tử cung. Một số dự đoán cho rằng tỷ lệ mắc bệnh sẽ chỉ còn 4 người mắc trên mỗi 100.000 trường hợp vào năm 2035.

Các quốc gia khác trong khu vực chưa hành động nhanh được như vậy, nhưng các nguồn trợ giúp có thể sắp đến với họ. Ví dụ, Liên minh toàn cầu về vắc-xin và tiêm chủng (GAVI) hỗ trợ các quốc gia không thể tự mình thực hiện các biện pháp. Tính đến năm 2020, GAVI (Global Alliance for Vaccines and Immunisation, Liên minh toàn cầu về vắc-xin và tiêm chủng) đã cung cấp vắc-xin cho gần 5 triệu trẻ em gái vị thành niên trên toàn thế giới. Chương trình này bao gồm một sáng kiến đã được khởi xướng tại Myanmar vào năm 2020 [5], bất chấp những thách thức to lớn do COVID-19 gây ra [6].

Vắc-xin chỉ là một phần trong câu trả lời. Ung thư cổ tử cung phát triển từ tình trạng nhiễm HPV (Human Papillomavirus, virus gây u nhú ở người) dai dẳng và có thể mất tới 15 năm để phát triển. Do độ trễ về thời gian này, xét nghiệm thường quy 3 – 5 năm một lần là biện pháp cần thiết để phát hiện sớm tế bào cổ tử cung bất thường hoặc sự hiện diện của DNA (axit deoxyribonucleic) HPV (Human Papillomavirus, virus gây u nhú ở người). Các quốc gia có thể và nên ưu tiên xét nghiệm DNA (axit deoxyribonucleic) HPV (Human Papillomavirus, virus gây u nhú ở người) và phân tích kiểu gen các chủng có nguy cơ cao (ví dụ: HPV [Human Papillomavirus, virus gây u nhú ở người]16/18) làm sàng lọc chính.

Xét nghiệm DNA (axit deoxyribonucleic) của HPV (Human Papillomavirus, virus gây u nhú ở người) và phân tích kiểu gen có thể có tác dụng đáng kể trong việc sàng lọc phụ nữ ở độ tuổi phù hợp do hiệu suất xét nghiệm cao và cần ít nguồn lực hơn (ví dụ: các phương pháp dựa trên tế bào học yêu cầu nhân sự có trình độ chuyên môn cao mà có thể không có sẵn). Phương pháp xét nghiệm này có thể phù hợp để thực hiện trong một số khuôn khổ chăm sóc sức khỏe áp dụn – việc thực hiện sàng lọc chỉ một lần trong đời một phụ nữ còn tốt hơn là không thực hiện gì cả.

Chìa khóa để phòng ngừa bệnh

Là một căn bệnh có thể phòng ngừa cao, 93% các trường hợp ung thư cổ tử cung có thể được ngăn ngừa thông qua việc tiêm vắc-xin và sàng lọc thường xuyên. Thuyết phục cộng đồng và các nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe bằng cách giáo dục họ bằng những câu chuyện thành công thực tế là chìa khóa cho cả công tác phòng ngừa và quản lý bệnh tật.

Tài liệu tham khảo:

[1] Chương trình Xét nghiệm sàng lọc cổ tử cung Rose

[2] Woo Y. L. (2019). Tính khả thi và khả năng chấp nhận của việc tự lấy mẫu và xét nghiệm HPV bằng Cepheid Xpert® HPV tại một cơ sở chăm sóc sức khỏe ban đầu đông bệnh nhân. Tạp chí về công cuộc xóa sổ virus, 5 (Suppl 1), 10-11.

[3] Tay và cộng sự (2015). Những quan niệm sai lầm về vắc-xin và tỷ lệ tiêm vắc-xin HPV thấp ở Singapore,  Asian Pac J Cancer Prev, 16 (12), 5119-5124.

[4] Thực trạng nhiễm vi-rút gây u nhú ở người,   Bộ Y tế Úc trực thuộc Chính phủ Úc

[5] “Myanmar triển khai vắc-xin phòng ung thư cổ tử cung trên toàn quốc, bất chấp những thách thức của COVID-19”. Tin tức của Liên minh toàn cầu về vắc-xin và tiêm chủng

[6] Vắc-xin ngừa vi-rút gây u nhú ở người: Cập nhật về khả năng cung ứng và nhu cầu sử dụng, báo cáo của UNICEF (United Nations Children’s Fund, Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc)

Chia sẻ điều này:

Xem thêm về cùng chủ đề

Chọn một bài viết có liên quan từ các tùy chọn bên dưới.

Chủ đề được đề xuất

Giải trình tự MÀU ĐỎ 2020Bệnh hiếm
Đọc tiếp theo
Scroll to Top