Cả dân số phương Tây và châu Á đều có những yếu tố nguy cơ tương tự đối với thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch (VTE), một tình trạng thường biểu hiện dưới dạng huyết khối tĩnh mạch sâu (DVT) hoặc thuyên tắc phổi (PE). Tuy nhiên, các bằng chứng cho thấy các ca VTE ở châu Á có thể bị báo cáo thấp hơn đáng kể [1]. Vì VTE là một vấn đề lớn đối với bệnh nhân và hệ thống y tế, khoảng cách trong việc báo cáo này cần phải được giải quyết.
Các yếu tố nguy cơ gây VTE
Có hai loại yếu tố nguy cơ VTE — di truyền hoặc mắc phải. Các yếu tố nguy cơ di truyền xảy ra do những bất thường về gen ảnh hưởng đến con đường đông máu. Cả dân số châu Á và phương Tây đều phải đối mặt với tỷ lệ mắc các yếu tố nguy cơ di truyền đáng kể, nhưng các loại yếu tố nguy cơ di truyền cụ thể lại khác biệt rõ rệt giữa hai nhóm này [1]. Các yếu tố nguy cơ mắc VTE có được bao gồm phẫu thuật, chấn thương, nằm viện kéo dài, mất khả năng vận động, béo phì, sử dụng thuốc tránh thai dạng uống, tuổi cao, ung thư và liệt. Các yếu tố nguy cơ này có thể được chia thành hai loại: yếu tố nguy cơ có thể đảo ngược và yếu tố nguy cơ không thể đảo ngược. Khác với các yếu tố nguy cơ di truyền đối với VTE, không có sự khác biệt về chủng tộc đối với các yếu tố nguy cơ có được. Một số bằng chứng cho thấy nguy cơ VTE là tương đương giữa các dân số châu Á và phương Tây trong các bối cảnh chăm sóc tích cực, hậu phẫu thuật và điều trị ung thư [1-3]. Tuy nhiên, do thiếu các nghiên cứu lớn, có tính chất triển vọng để xác định tỷ lệ mắc VTE (cả triệu chứng và không triệu chứng) thực sự ở bệnh nhân châu Á, nên các bằng chứng hiện có vẫn còn hạn chế [2].
Gánh nặng bệnh tật của VTE
Gánh nặng bệnh tật của VTE phụ thuộc vào tỷ lệ tử vong, nguy cơ tái phát và các biến chứng nặng lâu dài của nó, chẳng hạn như tăng huyết áp phổi mạn tính và hội chứng sau huyết khối. Tăng huyết áp phổi mạn tính thường biểu hiện với các triệu chứng tim phổi, như khó thở, đau ngực và mệt mỏi. Hội chứng hậu huyết khối biểu hiện dưới dạng đau chân mạn tính, phù nề khó chữa, và nếu nặng thì loét tĩnh mạch [4,5]. Chúng ảnh hưởng đáng kể đến bệnh nhân về thể chất và tâm lý xã hội và hạn chế các hoạt động hàng ngày của họ, bao gồm cả năng suất làm việc [4,5].
Chẩn đoán VTE
Chẩn đoán VTE là như nhau, bất kể dân tộc, và dựa trên đánh giá lâm sàng và xét nghiệm chẩn đoán [1]. Đánh giá lâm sàng sẽ xem xét các dấu hiệu, triệu chứng và các yếu tố nguy cơ liên quan đến VTE, loại trừ các tình trạng bệnh lý khác. D-dimer được tạo ra từ sự thoái hóa fibrin và thường tăng trong VTE. Tuy nhiên, nó cũng tăng lên trong các điều kiện khác, chẳng hạn như nhiễm trùng và đột quỵ. Do đó, không có dấu hiệu D-dimer tăng cao cho phép bác sĩ lâm sàng loại trừ VTE khi sử dụng kết hợp với xác suất tiền xét nghiệm lâm sàng ở cả hai nhóm dân số châu Á và phương Tây. Đối với chẩn đoán hình ảnh, siêu âm nén (cho DVT) và chụp động mạch bằng CT đa lát cắt (cho PE) là các phương pháp xét nghiệm được ưu tiên [1].
Phòng ngừa và điều trị VTE
— Phòng ngừa VTE đòi hỏi bệnh nhân phải được phân loại dựa trên các yếu tố nguy cơ mắc phải. Vì các yếu tố nguy cơ này trong dân số châu Á tương tự như dân số phương Tây nên có thể sử dụng các công cụ đánh giá nguy cơ tương tự, chẳng hạn như mô hình đánh giá nguy cơ CAPRINI [3]. Bệnh nhân có nguy cơ mắc VTE thường được điều trị dự phòng dược lý như thuốc chống đông máu đường uống hoặc heparin trọng lượng phân tử thấp (LMWH) [3]. Tuy nhiên, việc dự phòng VTE ít được sử dụng ở châu Á do lo ngại về chảy máu, sự thiếu hụt các nghiên cứu để xác định nguy cơ chảy máu ở bệnh nhân châu Á khi sử dụng các thuốc dự phòng này [3], và quan niệm rằng VTE không phổ biến ở quần thể châu Á như ở dân số phương Tây. Các hướng dẫn châu Á về phòng ngừa VTE khuyến cáo rằng [3]:
-
-
-
-
- Dự phòng bằng thuốc được bắt đầu thực hiện sau khi xem xét nguy cơ chảy máu so với nguy cơ huyết khối.
- Nếu chảy máu và nguy cơ huyết khối cao, nên sử dụng thiết bị dự phòng cơ học bằng cách sử dụng thiết bị bơm hơi ngắt quãng (IPC). Những ống này được quấn quanh chân và chứa đầy khí, bóp chân để tăng lưu lượng máu qua tĩnh mạch và giúp ngăn ngừa cục máu đông [6]
-
-
-
Các hướng dẫn cũng cho biết không có bằng chứng nào cho thấy nguy cơ chảy máu ở bệnh nhân châu Á khi sử dụng thuốc chống đông (thuốc uống và heparin) cao hơn so với dân số phương Tây [1,3].
Điều trị VTE
Mục tiêu điều trị là ngăn ngừa lan rộng huyết khối và tái phát VTE thông qua can thiệp dược lý hoặc cơ học [1]. Cũng như việc ngăn ngừa VTE, thuốc chống đông máu cũng được sử dụng để điều trị huyết khối. Thời gian điều trị VTE nên kéo dài ít nhất ba tháng, có lựa chọn mở rộng điều trị tùy thuộc vào việc điều trị so với nguy cơ chảy máu [1].
Thực hiện nhiều hơn cho bệnh nhân châu Á
Tỷ lệ mắc và các yếu tố nguy cơ mắc VTE ở dân số châu Á tương tự như dân số phương Tây đã được nghiên cứu kỹ lưỡng. Số lượng các ca mắc VTE được báo cáo ngày càng tăng ở châu Á cho thấy nhận thức ngày càng tăng của các bác sĩ điều trị để tìm ra tình trạng này. Tuy nhiên, xét về tác động của VTE đối với kết quả điều trị của bệnh nhân, cần phải làm nhiều hơn nữa cho bệnh nhân VTE ở châu Á.
Cũng trong Lab Insights: Bác sĩ Pantep Angchaisuksiri, từ Bệnh viện Ramathibodi, Đại học Mahidol, Thái Lan, chia sẻ kinh nghiệm của ông về việc chẩn đoán và điều trị VTE trong bối cảnh châu Á. Ông cũng chia sẻ những hiểu biết của mình với tư cách là Chủ tịch mới của Hiệp hội huyết khối và cầm máu quốc tế. Nhấp vào đây để xem bài viết.
Tài liệu tham khảo:
[1] Wang KL, Yap ES, Goto S, Zhang S, Siu CW, Chiang CE. The diagnosis and treatment of venous thromboembolism in Asian patients. Thromb J. 2018;16:4. doi:10.1186/s12959-017-0155-z
[2] Lee LH, Nagarajan C, Tan CW, Ng HJ. Epidemiology of Cancer-Associated Thrombosis in Asia: A Systematic Review. Front Cardiovasc Med. 2021;8:669288. doi:10.3389/fcvm.2021.669288
[3] Liew NC, Alemany GV, Angchaisuksiri P, et al. Asian venous thromboembolism guidelines: updated recommendations for the prevention of venous thromboembolism. Int Angiol. Feb 2017;36(1):1-20. doi:10.23736/s0392-9590.16.03765-2
[4] Kahn SR. The post-thrombotic syndrome. Hematology Am Soc Hematol Educ Program. Dec 2 2016;2016(1):413-418. doi:10.1182/asheducation-2016.1.413
[5] Mathai SC, Ghofrani HA, Mayer E, Pepke-Zaba J, Nikkho S, Simonneau G. Quality of life in patients with chronic thromboembolic pulmonary hypertension. Eur Respir J. Aug 2016;48(2):526-37. doi:10.1183/13993003.01626-2015
[6] Hopkins Medicine. DVT Prevention: Intermittent pneumatic compression device. Truy cập: https://www.hopkinsmedicine.org/health/treatment-tests-and-therapies/dvt-prevention-intermittent-pneumatic-compression-devices. Accessed October 2022.


