Như là một phần trong những nỗ lực liên tục nhằm đảm bảo nguồn cung cấp máu an toàn hơn cho bệnh nhân, các ngân hàng máu trên toàn thế giới đang triển khai ngày càng nhiều hệ thống sàng lọc vi-rút viêm gan E (HEV), một bệnh nhiễm trùng phổ biến có thể dẫn đến hậu quả nghiêm trọng và đe dọa tính mạng ở một số bệnh nhân.
Tại Thái Lan, Trung tâm Huyết học Quốc gia thuộc Hội Chữ thập đỏ Thái Lan đã triển khai quy trình sàng lọc HEV (Hepatitis E Virus, Vi-rút viêm gan E) hàng tháng với số lượng 500 đơn vị/tháng trong các năm tài chính 2023-2027. Sáng kiến này nhằm mục đích giảm thiểu nguy cơ nhiễm HEV (Hepatitis E Virus, Vi-rút viêm gan E), đặc biệt là ở phụ nữ mang thai, những người có hệ miễn dịch suy yếu và các nhóm bệnh nhân khác có nguy cơ cao gặp biến chứng do nhiễm HEV (Hepatitis E Virus, Vi-rút viêm gan E).
Trong báo cáo này, chúng tôi sẽ đánh giá tổng quan và về dịch tễ học của HEV (Hepatitis E Virus, Vi-rút viêm gan E) để hiểu tại sao đây là vấn đề mà một số ngân hàng máu muốn tìm hướng xử lý, cũng như hiểu được quy trình sàng lọc diễn ra như thế nào, bao gồm những cân nhắc về công nghệ sử dụng trong phòng xét nghiệm và chính sách. Chúng tôi sẽ kết luận và đưa ra một vài thông tin từ phía Thái Lan nhằm giải thích cho quyết định triển khai sàng lọc HEV (Hepatitis E Virus, Vi-rút viêm gan E) của Hội Chữ thập đỏ Thái Lan.
Tổng quan và dịch tễ học của HEV (Hepatitis E Virus, Vi-rút viêm gan E)
HEV (Hepatitis E Virus, Vi-rút viêm gan E) là một loại vi-rút RNA đơn sợi, dương tính, không có vỏ bọc, thuộc chi Orthohepevirus, họ Hepeviridae. Vi-rút này có ít nhất bốn kiểu gen khác nhau: kiểu gen 1, 2, 3 và 4. Kiểu gen 1 và 2 gây bệnh cho con người, trong khi kiểu gen 3 và 4 lưu thông ở một số động vật, bao gồm lợn, lợn rừng và hươu. Đôi khi, kiểu gen 3 và 4 cũng có thể gây nhiễm bệnh trên người [1].
Theo thông tin từ Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), mỗi năm trên toàn thế giới có khoảng 20 triệu ca nhiễm mới HEV (Hepatitis E Virus, Vi-rút viêm gan E) được chẩn đoán, ước tính có khoảng 3,3 triệu ca xuất hiện triệu chứng [1] Tỷ lệ lưu hành cao nhất là ở Nam và Đông Á. ăm 2015, WHO ước tính có 44.000 ca tử vong do nhiễm HEV (Hepatitis E Virus, Vi-rút viêm gan E) [1].
Đây là bốn con đường lây truyền chính của nhiễm trùng HEV (Hepatitis E Virus, Vi-rút viêm gan E): (1) lây truyền qua đường phân-miệng do tiêu thụ thực phẩm và nước bị ô nhiễm; (2) ăn thịt động vật bị nhiễm bệnh chưa nấu chín; (3) lây truyền theo chiều dọc; và (4) truyền các chế phẩm máu bị nhiễm bệnh, hay còn được gọi là nhiễm HEV (Hepatitis E Virus, Vi-rút viêm gan E) qua đường truyền máu (nhiễm TT-HEV) [1].
Thời gian ủ bệnh của nhiễm trùng HEV (Hepatitis E Virus, Vi-rút viêm gan E) kéo dài từ 2 đến 10 tuần, trung bình từ 5 đến 6 tuần. Hầu hết các bệnh nhân nhiễm HEV (Hepatitis E Virus, Vi-rút viêm gan E) đều không có triệu chứng. Các triệu chứng và dấu hiệu của nhiễm HEV (Hepatitis E Virus, Vi-rút viêm gan E) có thể bao gồm sốt, chán ăn, buồn nôn, nôn, đau bụng, ngứa, phát ban da, đau khớp, vàng da và gan to. Những triệu chứng này thường kéo dài từ 1 đến 6 tuần. Miễn dịch chống lại HEV (Hepatitis E Virus, Vi-rút viêm gan E) sẽ được hình thành sau khi hết tình trạng nhiễm trùng cấp tính. Ở phần lớn bệnh nhân, nhiễm HEV (Hepatitis E Virus, Vi-rút viêm gan E) có thể tự khỏi [1].
Chỉ một số hiếm trường hợp, nhiễm HEV (Hepatitis E Virus, Vi-rút viêm gan E) cấp tính có thể trở nặng và dẫn đến tình trạng viêm gan tối cấp (suy gan cấp). HEV (Hepatitis E Virus, Vi-rút viêm gan E) cũng có thể gây tỷ lệ tử vong cao và sảy thai ở phụ nữ bị nhiễm HEV (Hepatitis E Virus, Vi-rút viêm gan E) trong thai kỳ, đặc biệt trong ba tháng cuối thai kỳ. Ngoài ra, HEV (Hepatitis E Virus, Vi-rút viêm gan E) có thể gây nên tình trạng nhiễm trùng mãn tính ở những người bị ức chế miễn dịch như bệnh nhân đang mắc vi-rút suy giảm miễn dịch ở người (HIV) và bệnh nhân được ghép tạng có sử dụng thuốc ức chế miễn dịch [1].
Sàng lọc HEV (Hepatitis E Virus, Vi-rút viêm gan E) tại các ngân hàng máu: quy trình và chính sách
Do phần lớn bệnh nhân nhiễm HEV (Hepatitis E Virus, Vi-rút viêm gan E) không có triệu chứng và không được phát hiện, do đó họ vẫn có thể hiến máu. Tỷ lệ nhiễm HEV (Hepatitis E Virus, Vi-rút viêm gan E) trên số những người hiến máu trong các nghiên cứu trước đây dao động từ 1:600 đến 1:74.131 [2].
Một số quốc gia đã triển khai sàng lọc HEV (Hepatitis E Virus, Vi-rút viêm gan E) toàn diện hoặc một phần ở người hiến máu, tùy thuộc vào tỷ lệ nhiễm HEV (Hepatitis E Virus, Vi-rút viêm gan E) ở người hiến máu tại từng khu vực cụ thể. Xét nghiệm khuếch đại axit nucleic (NAT) là phương pháp sàng lọc được lựa chọn cho nhiễm HEV (Hepatitis E Virus, Vi-rút viêm gan E) vì người hiến máu bị nhiễm bệnh thường có nồng độ men gan bình thường và kết quả âm tính với kháng thể IgM và IgG kháng HEV (Hepatitis E Virus, Vi-rút viêm gan E).
Hầu hết các bệnh nhân có TT-HEV (transfusion-transmitted HEV infection, nhiễm vi-rút viêm gan E qua đường truyền máu) đều không có triệu chứng. Xét nghiệm chức năng gan có thể chỉ thấy tăng nhẹ nồng độ men gan, dẫn đến nguy cơ điều trị chậm trễ. Tuy nhiên, một vài bệnh nhân có thể có các dấu hiệu và triệu chứng viêm gan sau khi được truyền máu và các sản phẩm máu bị nhiễm bệnh. Các bệnh nhân bị suy giảm miễn dịch cũng dễ bị nhiễm HEV (Hepatitis E Virus, Vi-rút viêm gan E) mạn tính hơn.
Hiện nay, Hướng dẫn thực hành lâm sàng của Hiệp hội gan mật châu Âu về tình trạng nhiễm HEV (Hepatitis E Virus, Vi-rút viêm gan E) khuyến nghị xét nghiệm HEV (Hepatitis E Virus, Vi-rút viêm gan E) ở những bệnh nhân có nồng độ men gan bất thường sau khi truyền máu [2]. Trong đó, việc sàng lọc thường quy HEV (Hepatitis E Virus, Vi-rút viêm gan E) ở người hiến máu sử dụng phương pháp NAT (Nucleic acid amplification testing, Xét nghiệm khuếch đại axit nucleic) cần được đánh giá dựa trên nguy cơ mắc TT-HEV (transfusion-transmitted HEV infection, nhiễm vi-rút viêm gan E qua đường truyền máu) của địa phương, cùng với nghiên cứu về hiệu quả chi phí trước khi thực hiện bất kỳ thay đổi chính sách nào [2].
Dữ liệu toàn cầu và quan điểm về TT-HEV (transfusion-transmitted HEV infection, nhiễm vi-rút viêm gan E qua đường truyền máu)
Theo một nghiên cứu trước đây ở miền Nam nước Anh [3], 225.000 người hiến máu đã được sàng lọc ARN của HEV (Hepatitis E Virus, Vi-rút viêm gan E). Bảy mươi chín người hiến máu bị nhiễm HEV (Hepatitis E Virus, Vi-rút viêm gan E) kiểu gen 3 đã được xác định với tỷ lệ hiện mắc là 1/2848 (0,04%). Trong số những người hiến máu có nhiễm, có 62 chế phẩm máu được truyền cho 60 bệnh nhân trước khi được phát hiện nhiễm vi-rút Trong số 43 bệnh nhân được theo dõi, 18 (42%) trường hợp bị nhiễm bệnh. Tăng men gan là dấu hiện phổ biến ở những bệnh nhân bị nhiễm TT-HEV (transfusion-transmitted HEV infection, nhiễm vi-rút viêm gan E qua đường truyền máu). Để hoàn toàn loại bỏ TT-HEV (transfusion-transmitted HEV infection, nhiễm vi-rút viêm gan E qua đường truyền máu), hai bệnh nhân cần điều trị bằng ribavirin và một bệnh nhân phải giảm mức sử dụng thuốc ức chế miễn dịch. Bên cạnh đó, có 10 bệnh nhân bị nhiễm trùng kéo dài.
Tỉnh Hokkaido, phía Bắc Nhật Bản, đã ghi nhận 20 trường hợp bệnh nhân nhiễm TT-HEV (transfusion-transmitted HEV infection, nhiễm vi-rút viêm gan E qua đường truyền máu) trong khoảng thời gian 17 năm [4]. Hầu hết các nhiễm trùng đều do kiểu gen HEV (Hepatitis E Virus, Vi-rút viêm gan E) 3 gây ra, chỉ có hai bệnh nhân bị nhiễm kiểu gen HEV (Hepatitis E Virus, Vi-rút viêm gan E) 4. Trong số 19 bệnh nhân có dữ liệu, 9 bệnh nhân có bệnh máu ác tính. Nồng độ HEV (Hepatitis E Virus, Vi-rút viêm gan E) lây nhiễm tối thiểu trong nhiễm TT-HEV (transfusion-transmitted HEV infection, nhiễm vi-rút viêm gan E qua đường truyền máu) ở nghiên cứu này là 3,6 x 104 IU HEV (Hepatitis E Virus, Vi-rút viêm gan E) RNA. Khả năng lây nhiễm ước tính của các chế phẩm máu bị nhiễm HEV (Hepatitis E Virus, Vi-rút viêm gan E) trong truyền là 50%.
Một nghiên cứu khác cho thấy tần suất nhiễm HEV (Hepatitis E Virus, Vi-rút viêm gan E) ở người hiến máu là 0,011% (289 trên 2.638.685 người hiến máu) từ năm 2005 đến năm 2019 với NAT (Nucleic acid amplification testing, Xét nghiệm khuếch đại axit nucleic) gộp mẫu với 20 mẫu một lần [5]. Tuy nhiên, tần suất này đã tăng lên mức 0,043% (597 trên 1.379.750 người hiến máu) khi sử dụng xét nghiệm NAT (Nucleic acid amplification testing, Xét nghiệm khuếch đại axit nucleic) riêng lẻ. Trong số những người hiến máu bị nhiễm, 89% có kiểu gen HEV (Hepatitis E Virus, Vi-rút viêm gan E) 3, trong khi phần còn lại thể hiện kiểu gen HEV (Hepatitis E Virus, Vi-rút viêm gan E) 4. Kể từ khi triển khai sàng lọc HEV (Hepatitis E Virus, Vi-rút viêm gan E) trên người hiến máu, không có thêm trường hợp nhiễm TT-HEV (transfusion-transmitted HEV infection, nhiễm vi-rút viêm gan E qua đường truyền máu) nào được báo cáo (dữ liệu tính đến năm 2019).
Cập nhật từ Thái Lan
Ở Thái Lan, tỷ lệ nhiễm HEV (Hepatitis E Virus, Vi-rút viêm gan E) ở người hiến máu được xác định dựa vào RNA HEV (Hepatitis E Virus, Vi-rút viêm gan E) tại Trung tâm Huyết học Quốc gia và Trung tâm Huyết học Khu vực thể hiện trong Bảng 1 [6].
Theo dữ liệu nêu trên, tỷ lệ nhiễm HEV (Hepatitis E Virus, Vi-rút viêm gan E) ở người hiến máu Thái Lan tương đối cao, đặc biệt là trong các trung tâm Huyết học Khu vực. Đây là lý do tại sao Trung tâm Huyết học Quốc gia đã triển khai quy trình sàng lọc vi-rút viêm gan E hàng tháng với số lượng 500 đơn vị mỗi tháng (trong các năm tài chính 2023-2027).
Tài liệu tham khảo:
[1] https://www.who.int/news-room/fact-sheets/detail/hepatitis-e. Viêm gan E Ngày 20 tháng 7 năm 2023.
[2] Hướng dẫn thực hành lâm sàng của EASL (European Association for the Study of the Liver, Hiệp hội gan mật châu Âu) về nhiễm vi-rút viêm gan E. Tạp chí về bệnh gan. 2018;68(6):1256-71.
[3] Hewitt PE, Ijaz S, Brailsford SR, Brett R, Dicks S, Haywood B và cộng sự. Vi-rút viêm gan E trong các thành phần máu: một nghiên cứu về tỷ lệ hiện mắc và lây truyền ở miền Đông Nam nước Anh. Lancet (Luân Đôn, Anh). 2014;384(9956):1766-73.
[4] Satake M, Matsubayashi K, Hoshi Y, Taira R, Furui Y, Kokudo N và cộng sự. Các diễn biến lâm sàng đặc biệt của viêm gan E lây truyền qua đường truyền máu ở những bệnh nhân bị suy giảm miễn dịch. Truyền máu. 2017;57(2):280-8.
[5] Sakata H, Matsubayashi K, Iida J, Nakauchi K, Kishimoto S, Sato S và cộng sự. Xu hướng nhiễm vi-rút viêm gan E: Phân tích sàng lọc lâu dài những người hiến máu ở Hokkaido, Nhật Bản, 2005-2019. Truyền máu. 2021;61(12):3390-401.
[6] Pitchanan Khamsawang, Wilawan Sakram, Peeraya Suriya, Duangnapa Intarasongkrau, Patcharida Wongkittikul, Chompinekh Tungpunekh, et al. Sàng lọc nhiễm vi-rút viêm gan E ở người hiến máu. 2023.

